Thục địa là vị thuốc được chế biến từ rễ củ của cây Địa hoàng. Đây là vị thuốc rất nổi tiếng trong y học cổ truyền và được sử dụng từ lâu ở khu vực Đông Á trong hầu hết các phương thuốc có tác dụng bổ thận, bổ huyết, tăng cường sinh lý nam nữ, dùng để điều trị nhiều bệnh như tiểu đường, thiếu máu, loãng xương…
Thục địa là loại dược liệu được chế biến từ rễ củ của cây Địa hoàng. Cây Địa hoàng có nguồn gốc từ Trung Quốc, được di thực trồng ở nhiều nơi để làm thuốc. Ở Việt Nam, cây được trồng ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.
Đặc điểm thực vật của cây Địa hoàng là loài cây thân thảo, sống lâu năm, cao khoảng 30 – 40cm. Toàn thân cây có phủ lớp lông tơ trắng, mềm mịn.
Thân rễ phình lên thành củ. Củ Địa hoàng tươi hình thoi hay hình trụ cong queo, dễ bẻ gãy, mặt ngoài màu vàng đỏ, có những vùng thắt lại chia củ thành từng khoanh.

Lá mọc vòng ở gốc và hiếm khi mọc ở thân. Phiến lá hình bầu dục, gốc thuôn dài, đầu lá hơi tròn, càng về phía cuống càng hẹp lại, mép lá có răng cưa mấp mô không đều, phiền lá có nhiều gân nổi ở mặt dưới chia lá thành những múi nhỏ.
Hoa màu tím đỏ, mọc thành chùm trên một cuống chung dài ở đầu cành, thường nở vào mùa hạ.
Đài và tràng đều có hình chuông, tràng hơi cong, dài khoảng 3 – 4cm, mặt ngoài tím sậm, mặt trong hơi vàng với những đốm tím. Mỗi hoa có 3 nhị với 2 nhụy lớn.
Quả hình trứng tròn, chứa nhiều hạt nhỏ.
Rễ địa hoàng được thu hái ở những cây đã có tuổi thọ ít nhất là 5 – 6 tháng. Củ là bộ phận được ứng dụng làm thuốc. Mỗi cây có 5 – 7 củ, phần củ có cuống dài, màu nâu đỏ hoặc đỏ nhạt. Tùy theo cách chế biến mà ta có Sinh địa hoàng hay Thục địa hoàng.
Sinh địa hoàng: Củ Địa hoàng đã được chọn lựa, rửa sạch, để ráo nước rồi rải vào lò sấy để sấy trong vòng 6 – 7 ngày cho khô đều.
Thục địa (thục là nấu chín): Củ Địa hoàng lấy về, ngâm nước, cạo sạch đất. Lấy những củ vụn nấu lấy nước tẩm những củ to đã được chọn rồi đem đồ. Sau khi đồ xong đem phơi, phơi khô lại tẩm. Tẩm và đồ như vậy 9 lần (quy tắc cửu chưng, cửu sái) là được. Khi nấu không dùng đồ kim loại như đồng, sắt.
Tùy từng nơi, người ta có thể áp dụng cách nấu Thục địa cũng như cách chế biến khác nhau, có thể dùng rượu nấu rồi dùng nước gừng ngâm, lại nấu tiếp cho đến khi Thục địa có màu đen nhánh là đạt. Thục địa thành phẩm chất lượng tốt sẽ có màu đen huyền, mềm mại, không dính tay, thớ dai.

Vị thuốc Thục địa có màu đen nhánh, dẻo, thơm. Cả Sinh địa và Thục địa đều là những vị thuốc quý để chữa bệnh về máu. Tuy nhiên, sinh địa thì có tính lương (mát), còn Thục địa qua quá trình bào chế bởi nhiệt và tính ấm của gừng nên vị thuốc Thục địa sẽ có tính ôn (ấm) nên thường được dùng cho các đối tượng mắc chứng huyết hư, can hư bất túc, kinh nguyệt không đều, huyễn vựng…
Do Thục địa đã qua sơ chế có vị ngọt, mềm dẻo nên cần bảo quản trong túi kín hoặc bình có nắp đậy, để ở nơi khô ráo và thông thoáng. Tránh sâu bọ, côn trùng, nhiệt độ cao và nơi ẩm ướt.
Trong rễ địa hoàng tươi có iridoid (catalpol, rehmaglutin, rehmanniosid, …), đường (glucose, galactose, fructose, sucrose…), phenylethanoid glycoside (verbacoside và iso-verbacoside), monoterpenoid, triterpene, phenolic, ligan, flavonoid…
Các thành phần chính có hiệu quả của Rehmannia glutinosa cho tác dụng lâm sàng là: catalpol, Onuride, Rehmannioside D, Rehmannioside A.
Rễ tươi có 20 axit amin, nhiều nhất là arginin. Rễ chế biến có 15 axit amin nhiều nhất là alanin, 20 nguyên tố vi lượng Cu, Zn, Fe, Mn… Catalpol khi chế biến chỉ còn 1/20-1/30 so với rễ tươi.
Theo y học cổ truyền
Thục địa có vị ngọt, tính hơi ấm quy vào 3 kinh: Tâm, Can, Thận.
Công dụng: Trị thận âm suy sinh ra các chứng âm hư nội nhiệt, người nóng âm ỉ, hay khát nước, môi khô, đổ mồ hôi, bốc hỏa, người hay bực mình cáu giận. Bệnh tiêu khát (đái đường), đau họng, khí suyễn (khó thở), hư hỏa bốc lên sinh xuất huyết, làm sáng mắt, điều kinh, bổ huyết, sinh tinh, làm cơ thể tráng kiện.

Thục địa được dùng để dưỡng âm và tiếp thêm sinh lực cho thận trong y học cổ truyền Trung Quốc. Theo y học cổ truyền ở các nước Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản), Thục địa được sử dụng điều trị các bệnh khác nhau như tiểu đường, thiếu máu, loãng xương, rối loạn tuyến thượng thận, ức chế viêm gan và xơ hóa. Ngoài ra, loại thảo dược này còn có tác dụng khác bao gồm chống mệt mỏi, chống trầm cảm và bảo vệ thần kinh.
Theo y học hiện đại
Chiết xuất nước rễ địa hoàng có tác dụng lên sự tăng sinh và biệt hóa của tế bào gốc tạo máu và tế bào tiền thân trong tủy xương của chuột thí nghiệm, làm tăng huyết sắc tố, hồng cầu và đẩy nhanh quá trình tạo máu.
Hạ đường huyết theo cơ chế tăng cường hoạt động của glucokinase và G6PD ở chuột, kích thích tiết insulin và giảm hàm lượng glycogen trong gan ở chuột.
Nước sắc từ Thục địa có tác dụng ức chế miễn dịch tương tự corticosteroid nhưng không gây tổn thương hay làm teo vỏ thượng thận.
Kích thích sự tăng sinh và hoạt động của các nguyên bào xương, đồng thời ức chế sự hình thành và hoạt động tiêu hủy của các nguyên bào xương, có tác dụng phòng ngừa tình trạng mất xương, loãng xương do cắt bỏ buồng trứng.
Nước sắc từ Thục địa cho thấy tác dụng kháng viêm trên chuột cống được gây viêm bằng formalin.
Nước sắc từ thân cây Thục địa còn có tác dụng cầm máu, lợi tiểu, kháng nấm, hạ áp, tăng cường sức khỏe tim mạch, bảo vệ gan và chống lại các chất phóng xạ.
Chống oxy hóa bằng cách loại bỏ các gốc tự do và giảm mức độ glutathione peroxidase.
Làm chậm sự lão hóa của tế bào trên chuột thí nghiệm.
Làm chất bổ trợ cho vắc xin ung thư cổ tử cung trong điều trị chuột bị ung thư cổ tử cung. Ức chế sự tăng sinh và di căn của tế bào ung thư vòm họng.
(Ảnh: Internet)
(Nguồn: Tổng hợp)