Thái Nguyễn
Danh mục web mobile Thái Nguyễn
banner
banner
banner
banner
banner
banner
banner
banner
banner
banner
banner

Hướng dẫn điều trị ung thư cổ tử cung sau mãn kinh

Cập nhật 15:08, 30/08/2025
Admin
điều trị ung thư cổ tử cung ở phụ nữ mãn kinh y duoc thai nguyen

Ung thư cổ tử cung sau tuổi mãn kinh đang đối mặt với những thách thức không nhỏ về mặt chẩn đoán và điều trị. Bài viết này cung cấp một cái nhìn sâu sắc về các chiến lược sàng lọc, đặc điểm lâm sàng và hướng dẫn điều trị chi tiết dành cho phụ nữ sau mãn kinh.

Các yếu tố nguy cơ

Tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung tăng dần sau tuổi 40 và đạt đỉnh khoảng tuổi 60, đúng vào giai đoạn sau mãn kinh của phụ nữ.

Trên phạm vi toàn cầu, tỷ lệ mắc bệnh của phụ nữ lớn tuổi giữa các quốc gia có sự khác biệt, nhưng tỷ lệ tử vong đều cao, với tỷ lệ tử vong chuẩn hóa của ung thư cổ tử cung ở phụ nữ trên 60 tuổi là 6.9/100.000 và ở những người trên 70 tuổi lên đến 28/100.000. Trong đó, 9.91% phụ nữ lớn tuổi chết do không phát hiện kịp thời, dẫn đến việc trì hoãn điều trị, làm cho công tác sàng lọc bệnh lý cổ tử cung ở người cao tuổi không thể bỏ qua.

Phụ nữ sau mãn kinh có một số yếu tố nguy cơ cao mắc ung thư cổ tử cung đặc biệt:

– Khi tuổi tăng, hệ miễn dịch của phụ nữ sau mãn kinh giảm dần, một khi nhiễm HR-HPV, rủi ro phát triển thành ung thư cổ tử cung nếu nhiễm HR-HPV kéo dài là tương đối cao.

– Phụ nữ sau mãn kinh thuộc nhóm có nguy cơ cao nhiễm HPV. Hiện nay phụ nữ trên 60 tuổi không có lịch sử tiêm vắc xin HPV.

– Phụ nữ sau mãn kinh do teo giảm đường sinh dục, cảm thấy căng thẳng và sợ hãi khi khám phụ khoa, dẫn đến việc không thường xuyên kiểm tra sức khỏe hoặc dù biết mình nhiễm HR-HPV nhưng không tuân theo lịch trình tái khám định kỳ, thường phát hiện ung thư cổ tử cung khi bệnh đã không còn ở giai đoạn sớm.

điều trị ung thư cổ tử cung ở phụ nữ mãn kinh y duoc thai nguyen

Chiến lược sàng lọc ung thư cổ tử cung

Hội Ung Thư Mỹ (American Cancer Society, ACS) đã cập nhật hướng dẫn sàng lọc ung thư cổ tử cung cho người có nguy cơ bình thường vào tháng 7 năm 2020, khuyến nghị kỹ thuật xét nghiệm HPV đơn lẻ được đưa vào chương trình sàng lọc. Trong hướng dẫn cập nhật này, ACS đề xuất bắt đầu sàng lọc ung thư cổ tử cung từ tuổi 25.

Vào tháng 7 năm 2021, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã công bố hướng dẫn mới nhất về sàng lọc và điều trị bệnh lý tiền ung thư cổ tử cung, khuyến nghị xét nghiệm HPV là phương pháp sàng lọc ưu tiên cho ung thư cổ tử cung và đề xuất phụ nữ bắt đầu sàng lọc từ tuổi 30.

Mặc dù cả hướng dẫn trong nước và quốc tế đều khuyến nghị xét nghiệm HPV là biện pháp sàng lọc hàng đầu, nhưng việc quản lý sàng lọc đối với phụ nữ sau mãn kinh có những điểm đặc biệt cần lưu ý: Đối với phụ nữ trên 65 tuổi không có tiền sử mắc CIN II trở lên, nếu đã có 3 lần liên tiếp sàng lọc tế bào học âm tính trong 10 năm, hoặc 2 lần sàng lọc kết hợp âm tính và lần sàng lọc gần nhất trong vòng 5 năm, thì có thể ngừng sàng lọc ung thư cổ tử cung. Trong trường hợp không đáp ứng các điều kiện trên, việc sàng lọc vẫn nên được thực hiện.

điều trị ung thư cổ tử cung ở phụ nữ mãn kinh y duoc thai nguyen

Đặc điểm sinh lý sau mãn kinh và những thách thức trong chẩn đoán

Việc chẩn đoán ung thư cổ tử cung ở phụ nữ sau mãn kinh đối mặt với nhiều thách thức, do những thay đổi sinh lý đặc biệt gây khó khăn trong việc kiểm tra bằng gương âm đạo.

Sau mãn kinh, phụ nữ có niêm mạc âm đạo mỏng đi, độ đàn hồi giảm, âm đạo ngắn hơn và hẹp hơn, cổ tử cung cũng bị teo nhỏ, cứng lại và thiếu độ đàn hồi, đồng thời vùng chuyển tiếp cổ tử cung và giao điểm sừng cột nguyên thủy lui vào trong ống cổ tử cung.

Để giải quyết những vấn đề trên, chuyên gia khuyến nghị sử dụng thuốc có chứa estrogen tại chỗ trong âm đạo 3-4 tuần. Phương pháp này có thể cải thiện tình trạng teo nhỏ và hẹp của cổ tử cung và âm đạo, cũng như tăng độ đàn hồi, không chỉ giảm bớt cảm giác khó chịu cho bệnh nhân trong quá trình kiểm tra/ lấy mẫu bằng gương âm đạo, mà còn giúp thu thập mẫu vật hiệu quả hơn, nâng cao độ chính xác của việc kiểm tra và sinh thiết.

Ngoài ra, tỷ lệ bệnh tiền ung thư cổ tử cung ảnh hưởng đến ống cổ tử cung ở phụ nữ sau mãn kinh là khá cao. Nghiên cứu của Boulanger và cộng sự đã phát hiện tỷ lệ này lên đến 44%, và nghiên cứu của Song và cộng sự cũng chỉ ra rằng ở nhóm tuổi ≥50, tỷ lệ phát hiện CIN II+ thông qua ECC (cạo ống cổ tử cung) là 10.3%, cao hơn nhiều so với nhóm 35-39 tuổi chỉ có 2.3%. Do đó, khi lấy mẫu sinh thiết cổ tử cung, cần đặc biệt chú ý đến ống cổ tử cung.

Một nghiên cứu khác của He và cộng sự đã phát hiện tỷ lệ CIN kèm theo tổn thương tiền ung thư niêm mạc âm đạo cấp độ cao là từ 17.2% đến 22.6%, cho thấy có mối liên quan giữa bệnh lý cổ tử cung và bệnh lý âm đạo. Đặc biệt là ở bệnh nhân từ 50 tuổi trở lên. Vì vậy, đối với phụ nữ lớn tuổi có HSIL và cao hơn, cần chú ý quan sát thành âm đạo và tiến hành sinh thiết những vùng bị tổn thương nghi ngờ.

điều trị ung thư cổ tử cung ở phụ nữ mãn kinh y duoc thai nguyen

 

Quyết định điều trị CIN và những cân nhắc đối với bệnh nhân sau mãn kinh

Phương pháp điều trị thông thường cho từng cấp độ CIN

CIN I: Ưu tiên theo dõi, khi cần thiết có thể áp dụng điều trị vật lý (như laser, đông lạnh) hoặc phương pháp LEEP (phẫu thuật cắt điện vòng cổ tử cung).

CIN II: Khuyến nghị điều trị vật lý (laser, đông lạnh) hoặc LEEP, cần xem xét dựa trên tuổi tác, nhu cầu sinh sản và các yếu tố cá nhân khác của bệnh nhân.

CIN III: Lựa chọn ưu tiên là LEEP hoặc phẫu thuật cắt côn với dao lạnh; đối với người không có nhu cầu sinh sản hoặc bệnh nhân với phạm vi tổn thương rộng, có thể xem xét phẫu thuật cắt bỏ tử cung.

Các tranh cãi và rủi ro trong điều trị bệnh lý cổ tử cung ở phụ nữ sau mãn kinh

Phẫu thuật cắt cổ tử cung ở phụ nữ sau mãn kinh có nguy cơ cao gặp biến chứng và tỷ lệ bệnh lý còn sót lại tăng đáng kể:

Rủi ro phẫu thuật: Cổ tử cung sau mãn kinh teo nhỏ, cung cấp máu giảm, dẫn đến tăng nguy cơ tổn thương thành âm đạo và hẹp ống cổ tử cung sau phẫu thuật, đồng thời việc theo dõi sau mổ càng trở nên khó khăn do cấu trúc cổ tử cung thay đổi.

điều trị ung thư cổ tử cung ở phụ nữ mãn kinh y duoc thai nguyen

Tỷ lệ bệnh lý còn sót lại cao: Nghiên cứu của Bae và cộng sự cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh còn sót lại ở bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên sau phẫu thuật cắt côn là OR=4.16. Nguy cơ bệnh lý tồn tại sau phẫu thuật tăng theo độ tuổi, và tuổi cao là yếu tố có thể dự đoán nguy cơ bệnh lý còn sót lại sau phẫu thuật. Một nghiên cứu của Lu và cộng sự với 120 ca phẫu thuật cắt tử cung toàn phần sau 6 tháng phẫu thuật cắt côn cho bệnh nhân CIN II cho thấy, tỷ lệ bệnh lý còn sót lại ở bệnh nhân từ 50 tuổi trở lên là 56.5%, trong khi ở người dưới 50 tuổi chỉ là 29.3%.

Gợi ý về lựa chọn phương pháp phẫu thuật: Để giảm thiểu nguy cơ bệnh lý còn sót lại, phẫu thuật cắt côn ở bệnh nhân sau mãn kinh nên sử dụng phương pháp cắt loại III.

Điều kiện áp dụng và hạn chế của phẫu thuật cắt tử cung

Cần lưu ý:

Nếu không thực hiện phẫu thuật cắt côn mà trực tiếp tiến hành phẫu thuật cắt bỏ tử cung ngoài cơ, có thể bỏ sót chẩn đoán ung thư cổ tử cung, tạo ra tình huống khó xử khi phạm vi phẫu thuật không đủ;

Phẫu thuật cắt bỏ tử cung có nguy cơ điều trị quá mức và tăng nguy cơ biến chứng phẫu thuật;

Chỉ khi ung thư cổ tử cung đã được loại trừ, phẫu thuật cắt bỏ tử cung ngoài cơ mới có thể tiến hành.

Tổng kết

Điều trị ung thư cổ tử cung ở phụ nữ sau mãn kinh cần xem xét đến nhiều yếu tố khác nhau như thay đổi sinh lý và tâm lý. Bằng cách tối ưu hóa chiến lược sàng lọc, cải thiện kỹ thuật chẩn đoán và thực hiện điều trị cá nhân hóa, có thể nâng cao tỷ lệ chẩn đoán sớm và hiệu quả điều trị. Các bác sĩ lâm sàng cần nhận thức đầy đủ về tính đặc của nhóm người này, tuân thủ hướng dẨn trong khi linh hoạt điều chỉnh phác đồ điều trị, từ đó cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân.

(Ảnh minh họa: Internet)

(Nguồn: SH)

This is widget area. Go to Appearance -> Widgets to add some widgets.